Thức dậy đi, cồng chiêng ơi!

17-06-2019, 07:24

Cồng chiêng là tài sản vô giá của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên; chiêng còn là vũ khí, là người bạn tâm giao, là linh hồn, là thần linh của mỗi người, mỗi nóc nhà, mỗi buôn làng, mỗi dân tộc trên dải đất Tây Nguyên hùng vỹ này. Còn bây giờ, cồng chiêng - ở nhiều buôn làng của Tây Nguyên, hầu như đã… vùi vào giấc ngủ.

 Của quý... cất vào kho
Tây Nguyên giữa mùa mưa, “cõng” thêm ảnh hưởng của cơn bão số 8 nên những trận mưa cứ nối tiếp nhau, dầm dề, dai dẳng. Mặc kệ, tôi cứ đi. Một mình, một xe. Gạt nước mở tốc độ nhanh nhất vẫn không gạt kịp nước mưa hắt vào kính chắn.
Mặc kệ, tôi cứ đi. Tôi đi, mang theo niềm vui bởi tôi sắp đến một làng được xem là còn nhiều cồng chiêng nhất Tây Nguyên: Làng Dăng, xã biên giới Ia O (giáp biên với Vương quốc Campuchia), huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.

Hôm nay trời mưa nên K’sor Phiếu - Trưởng thôn làng Dăng ở nhà. Vừa rót nước mời khách, trưởng thôn người J’rai này vừa cho biết: Cả thôn có 145 hộ (hơn 600 nhân khẩu) thì đã có đến 86 bộ cồng chiêng. Chưa bằng ngày xưa như ông bà, nhưng cũng đã là rất nhiều so với thời buổi này, so với nhiều làng xã lân cận. Trong 86 bộ cồng chiêng của làng thì có 2 bộ được xếp vào loại cực kỳ quý có tên gọi chiêng Pát. Nếu những bộ cồng chiêng khác được làm bằng sắt hay bằng đồng thì chiêng Pát được đúc bằng đồng đen. Quý là ở chất liệu đồng đen. Nhưng quý hơn là chiêng Pát - nhờ đồng đen nên khi đánh, tiếng chiêng trầm hùng hơn, ngân nga hơn, vang xa hơn, có hồn hơn…
Chúng tôi đội mưa, theo K’sor Phiếu đến nhà ông già Rơ Chăm Pem - một trong hai nhà còn giữ được bộ chiêng Pát quý hiếm. Già Pem đã ngoài bảy mươi mùa rẫy nhưng vẫn còn nhanh nhẹn, minh mẫn, nói tiếng phổ thông tương đối chuẩn. Để chúng tôi ngồi ngoài thềm nhà, ông đi vào trong một mình. Khoảng mười phút sau, ông khệ nệ mang ra một cái chiêng.

 

Ông nói: “Đây là chiêng bố đấy”! Tôi thật sự bất ngờ bởi ở Tây Nguyên đã lâu, lăn lộn với đồng bào Tây Nguyên tương đối nhiều nhưng mãi đến hôm nay, tôi mới được thấy một chiếc chiêng quý như vậy: Nó có đường kính khoảng 60 xen-ti-met, nặng dễ đến mười cân, cái núm tròn ở chính giữa đã lên màu đồng bóng loáng. Già Pem kể về lịch sử của chiếc chiêng quý này: Nó nguyên là của Ama - Amí (cha - mẹ) ông, mua từ lúc nào ông cũng không biết (cũng có thể là của thừa kế của dòng họ ông tự nhiều đời nay). Sau ngày Ama - Amí của ông về với cõi Atâu (cõi ma - ý chỉ người đã qua đời - PV), chiếc chiêng này được giao lại cho em gái của ông (theo chế độ mẫu hệ). 

Đến khi em gái của ông qua đời, nó lại thuộc về con gái của bà là Bleo. Sợ cháu gái của mình (Bleo) còn trẻ, không giữ nổi chiếc chiêng quý của ông bà để lại nên cách đây khoảng 5 năm, già Pem đã mua lại chiếc chiêng này của chính cháu gái mình với cái giá đáng để ngạc nhiên: 4 con trâu, 5 con bò, 1 cái chiêng bằng sắt, 1 ghè rượu loại quý (có tên gọi ché Doăn) và 14 triệu đồng để Bleo thêm tiền làm nhà.
Vừa dùng khăn lau bụi bẩn và mạng nhện bám trên chiếc chiêng (có lẽ đã lâu ngày không được mang ra đánh), già Pem vừa nói:
- Tôi mua lại chiếc chiêng này để làm tài sản trong nhà (với người Tây Nguyên, cồng chiêng là tài sản lớn nhất). Nhưng cái chính là để giữ lại của quý của ông bà, cha mẹ mình. Dù có đói, tôi cũng không bán. Khi nào tôi chết thì chính chiếc chiêng này phải ngân lên, đưa tôi về với cõi Atâu. Năm ngoái, có người đến đòi mua cái chiêng này với giá gần ba trăm triệu đồng nhưng tôi đã đuổi họ ra khỏi nhà. Chỉ tiếc là bây giờ trong làng, hầu như chỉ toàn người già đánh chiêng thôi. Bọn trẻ thì xem tivi, nghe nhạc mới, có đứa đi làm đồng còn đeo cái tai nghe để nghe nhạc bằng điện thoại di động nên ít đứa nào biết đánh chiêng.

Chiếc chiêng đã bóng loáng, già Pem đứng dậy, khoác sợi dây đeo chiêng vào vai. Tay phải cầm dùi đánh vào núm chiêng, tay trái nhẹ nhàng, dịu dàng lướt trên thành chiêng để giữ nhịp và tạo độ ngân. Tuy không phải là không gian của cồng chiêng (không có lễ hội, không có đống lửa giữa sân, cũng không có những điệu xoang dìu dặt…), nhưng ông già J’rai trên bảy mươi tuổi này trông vẫn là một nghệ sỹ đích thực của Tây Nguyên: Những bước chân uyển chuyển nhưng không thiếu phần chắc chắn, đầu lắc lư, mắt lim dim. Và tiếng chiêng - tiếng chiêng trầm ấm mà vang xa rồi vọng lại, vọng lại với thời gian, vọng lại với những lễ hội thâu đêm suốt sáng, với những mùa ăn năm uống tháng…Tiếng chiêng chỉ được phát ra từ chính chiếc chiêng Pát quý hiếm làm tự đồng đen…
Khó khăn lắm, tôi mới dứt khỏi tiếng chiêng của già Pem để đến một nhà khác - nhà được xem là còn sở hữu nhiều bộ cồng chiêng nhất làng (nói đúng hơn là nhất xã Ia O, nhất huyện Ia Grai, và nhất tỉnh Gia Lai): Nhà bà K’sor Byơih. Bà Byơih hiện sở hữu đến 6 bộ chiêng, trong đó có bộ chiêng đến hơn 10 chiếc (gồm chiêng bố, chiêng mẹ, chiêng con, chiêng cháu…). Bà Byơih cũng đã ngoài bảy mươi tuổi, yếu lắm rồi nên giao số tài sản quý giá này cho con gái bà là chị K’sor Hueo quản lý.
Phải được trưởng thôn K’sor Phiếu “nói khó” mãi, Hueo mới đồng ý mang chiêng ra “khoe” với khách. Nhìn quanh quất khắp lượt trong nhà, chẳng thấy chiếc chiêng nào. Bỗng K’sor Hueo bỏ tẩu thuốc lá xuống sàn, túm váy, nhẹ nhàng leo lên xà nhà và chui tọt vào trong một khoang kín. Tôi tò mò trèo lên nhìn theo: Cái khoang kín rộng gần bốn mét vuông. Qua ánh sáng lọt vào từ những mảnh ván ghép tường, tôi thấy có rất nhiều chiêng, có cả ghè rượu và nhiều vật dụng khác. Khó khăn lắm, Hueo mới chuyển ra được vài chiếc chiêng, hầu hết là làm bằng đồng (không phải là đồng đen như chiêng của già Pem), chiếc lớn nhất có đường kính khoảng gần 80 xen-ti-met. Tôi hỏi:
- Sao không làm cửa để đi cho dễ?
Hueo không biết nói tiếng phổ thông (cũng có thể là ngại tiếp xúc với người lạ) nên trưởng thôn phải giải thích:
- Làm cửa sợ người lạ nhìn thấy, dễ bị mất trộm. Làng này đã bị mất trộm mấy chục bộ cồng chiêng rồi đấy!
(Bây giờ tôi mới hiểu rằng, tại sao già Pem không cho tôi cùng vào nhà, nơi cất giấu chiếc chiêng Pát quý hiếm của mình!).
Qua trưởng thôn K’sor Phiếu, tôi được biết: Những bộ chiêng này không có tuổi (không biết có từ bao giờ). Nó chỉ được mang ra dùng khi làng có lễ hội như lễ Pơ-thi (lễ Bỏ mả), lễ mừng lúa mới…Còn thì…cất vào kho!
Kể cũng buồn. Cồng chiêng là để dùng cho sinh hoạt văn hoá cộng đồng của người Tây Nguyên. Vậy mà quanh năm, những của quý này hầu như chỉ được “sống” trong… kho!

TRẦN ĐĂNG LÂM

Theo nông nghiệp

 

Thêm một trao đổi