Vài câu hỏi dành cho các nhà nghiên cứu nhạc mới

29-03-2013, 06:57

 

VỀ ĐỊA DANH TRẢNG CÒNG
TRONG BÀI HÁT “LÊN NGÀN” CỦA HOÀNG VIỆT

                                                                                                  

NGUYỄN DUYÊN

 

Trảng Còng được mọi người biết đến nhiều qua bài hát nổi tiếng Lên ngàn của Hoàng Việt nói lên hình ảnh gian khổ của người phụ nữ thời kháng chiến ngược dòng Vàm Cỏ Đông cắt lúa thay chồng nuôi con trong trận lũ lụt lịch sử của Tây Ninh năm Nhâm Thìn 1952.

Trảng Còng nằm ở đâu trong địa giới Tây Ninh? Trên website Đất đứng tác giả Nguyễn Văn Tài cho rằng ở Tràng Bàng (thật ra là Trảng Còng chứ không phải Trãng Còng như tác giả viết sai chính tả):

Trích: Khúc hát Trãng Còng

Vẳng nghe khúc hát Trãng Còng…

Nhớ xưa gian khổ một lòng đánh Tây

Đáng đời giặc Mỹ vào đây

Xi-ti một trận xác đầy rừng xanh

Ba mươi năm ấy bao tình

Đắng cay trăm nỗi đất giành về ta

Trông lên có ngọn núi Bà

Tân Biên đổ xuống Tha La một màu.

Bảo Định Giang

Trãng Còng, một địa danh của quê hương Trãng Bàng, Tây Ninh đã được cả nước biết đến trong bài ca “Lên ngàn” của nhạc sĩ Hoàng Việt vào thời điểm trận lụt lịch sử năm nhâm thìn 1952… (Bài ca dao hay viết về Tây Ninh - Văn Tài)

http://datdung.com/modules.php?name=News&file=save&sid=1980

Nhưng trên blog Võ Cường (tức nhà báo Thạch Minh của báo Tây Ninh) có làm một truyện ký về Trảng Còng mang tên Lần theo câu hát tìm về nơi xưa, tác giả đã đến thực tế vùng đất nầy nằm trên sông Vịnh ở Phước Vinh huyện Châu Thành. Xin xem đoạn trích sau:

Sống ở Tây Ninh đã gần ba chục năm và thuộc nằm lòng bài hát "Lên ngàn" của Hoàng Việt nên tôi luôn tò mò muốn biết địa danh được nhắc trong lời ca "em chèo thuyền đi lên rẫy Trảng Cồng/ cắt lúa thay chồng..." ở đâu, hình thù nó ra sao? Tôi đã thử đi dọc bờ sông Vàm Cỏ Đông (vì lời ca có đoạn "dòng sông chảy xiết/ em chèo thuyền đi trên sông Vàm Cỏ Đông") để hỏi thăm nhưng chỉ nhận được những cái lắc đầu! Tình cờ, gần Tết Bính Tuất (2006) tôi được anh Nguyễn Văn Trâm, Phó phòng PA 25 Công an tỉnh Tây Ninh cho biết: "Trảng Cồng là một địa danh ở xã Phước Vinh, cặp bờ sông Vịnh nhưng tên chính xác của nó là Trảng Còng... Muốn biết cụ thể anh nên gặp chú Nguyễn Văn Ngài, nguyên là Phó Công an huyện Châu Thành". Mừng như tìm thấy được mỏ quý, tôi bỏ ra mấy ngày liền để đi về vùng đất ấy (Lần theo câu hát tìm về nơi xưa).

http://thachminh.vnweblogs.com/mobile.php?op=ViewArticle&blogId=8696&articleId=267923

Ngay trong bài Khúc hát Trảng Còng của Bảo Định Giang nếu ta tinh ý thì thấy nhà thơ nhắc nhiều về Tân Biên, Tha La, chiến dịch Junction city đều là những vùng nằm gần với Châu Thành nhiều hơn (nơi có Trảng Còng!?).

Trong hai nhân vật viết báo quen thuộc ở Tây Ninh, một người cho rằng Trảng Còng ở Trảng Bàng một người cho rằng ở Châu Thành thì tin ai? Theo tôi, Thạch Minh đã đến vùng đất ấy mục sở thị thì mang tính thuyết phục hơn. Vậy Nguyễn Văn Tài dựa vào đâu mà nói Trảng Còng ở Trảng Bàng?

Đây là những bài viết tôi sưu tập được có liên quan đến Trảng Còng:

Trong web Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Lên ngàn là tên bài hát được nhạc sĩ Hoàng Việt sáng tác năm 1953. Đây là một trong 21 ca khúc cách mạng được thanh niên yêu thích, theo kết quả bình chọn của Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương công bố từ 119 ca khúc của 51 tỉnh, thành và đơn vị trực thuộc.

Hình ảnh người vợ lính chan chứa những tình cảm sâu đậm, chèo thuyền ngược dòng Vàm Cỏ Đông lên rẫy cắt lúa thay chồng nuôi con.

http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AAn_ng%C3%A0n

Trên web Baomoi.com có bài mang tựa đề Nhạc sĩ Hoàng Việt: Khi ra đi có hứa thu nay về (Tân Linh):

Vừa theo đoàn văn công đi biểu diễn phục vụ đồng bào chiến sĩ, Hoàng Việt còn say sưa sáng tác... Nhiều ca khúc để đời đã được viết trong hoàn cảnh thực tế như vậy: Bài Nhạc rừng làm khi đơn vị tăng gia tự túc trên chiến khu Dương Minh Châu. Còn Lên ngàn được viết vào lúc trận lụt lịch sử năm Nhâm Thìn 1952 ập đến khiến cuộc sống kháng chiến ở miền Đông Nam Bộ càng gian khó hơn… Trong gian khó ấy, Hoàng Việt đã tìm được nguồn động viên quân dân miền Đông gian lao bằng những ca khúc lạc quan yêu đời: Em đi cắt lúa trên ngàn/ Còn anh chiến đấu sa tràng/ Kháng chiến nhất quyết thành công/ Anh về em thỏa ước mong…

Nhà thơ Bảo Định Giang nhớ lại: bận ấy bộ đội và nhân dân rơi vào hoàn cảnh khó khăn vô cùng. Sau khi đi công tác Đức Hòa trở về, Hoàng Việt bảo anh về trước, còn anh ấy ở lại Trảng Còng ven sông Vàm Cỏ Đông để đi tìm cảm hứng cho sáng tác. Khi trở về, bài hát Lên ngàn vừa xong Hoàng Việt đã hát lần đầu tiên bên cánh võng Bảo Định Giang. Vừa dứt lời ca, Bảo Định Giang bỗng nức nở khóc. Có lẽ bài ca mang tính bi tráng của cuộc kháng chiến gian lao mà anh dũng, một sự chấp nhận hy sinh gian khổ của cả một thế hệ nhằm giữ lấy mảnh đất quê hương.

http://www.baomoi.com/Nhac-si-Hoang-Viet-Khi-ra-di-co-hua-thu-nay-ve/71/4864597.epi

Bài này có đề cập đến Đức Hòa Long An là vùng đất giáp ranh với Trảng Bàng, nếu vậy thì Trảng Còng gần đâu đó vì từ đây lên Phước Vinh (như bài của Thạch Minh) rất xa, có thể  ngoài 70 km. Tôi thử tìm trên Google cụm từ Trang Cong - Trang Bang nhiều lần nhưng không thấy thông tin.

Tôi có trao đổi với soạn giả Thanh Hiền (nguyên Chủ tịch Hội Văn học- Nghệ thuật Tây Ninh), là người kháng chiến từng ở trong tiểu ban văn nghệ của Cục R, thì ông cũng cho rằng Trảng Còng nằm ở Phước Vinh. Hiện nay nhiều website, blog viết về bài Lên ngàn đều ghi là Tráng Còng, tác giả Thanh Hiền cho rằng là sai vì không có nghĩa, Tây Ninh là vùng đất cao có nhiều trảng ai cũng biết như: Trảng Lớn, Trảng Sụp, Trảng Mây, Trảng Bàng… Có thể do cao độ của nốt nhạc mà khi ca sĩ hát thì chúng ta nghe như chữ Tráng Còng.

Thật ra đến nay thì cũng khó tìm ra bản gốc bài nầy vì đã quá lâu.

Xin kính mời quý vị cao kiến bổ sung thêm cho tư liệu về vùng đất nổi tiếng đi vào âm nhạc của Hoàng Việt.

 

 

VỀ MỘT CA KHÚC ĐÃ TỪNG GÂY TRANH CÃI


LINH NGA NIÊK ĐAM

Năm 1979, trong lớp hướng dẫn thanh nhạc cho một số nòng cốt của phong trào ca hát công nhân viên chức, do Công đoàn tỉnh Đăk Lăk tổ chức, anh Vĩnh Ngâu, một giọng hát đang được yêu thích, đưa cho tôi ca khúc Nổi cồng lên mừng Tây Nguyên thắng trận, tên tác giả: Xuân Giao, đề nghị được hướng dẫn tập.

Giai điệu bài hát rất quen thuộc, dường như trước giải phóng, tôi đã có từng nghe trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, khi còn ở Hà Nội, được giới thiệu là từ miền Nam gửi ra. Đó là một ca khúc ngắn gọn, mang âm hưởng dân ca Tây Nguyên, có một đoạn khoe kỹ thuật hát nảy (staccato) của thanh nhạc, rất phù hợp với giọng hát Vĩnh Ngâu.

Sau khi biểu diễn nhiều lần, ca khúc này nhanh chóng được thanh niên các dân tộc trong tỉnh ưa thích và phổ biến rộng rãi. Ba tôi - bác sĩ Y Ngông Niêk Đam, lúc đó đang giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, cũng rất thích bài hát này. Chính ông đã dịch và đặt lời Êđê cho Vĩnh Ngâu hát rất thành công. Bài hát cứ thế sống mãi trong tâm hồn bạn yêu nhạc Tây Nguyên, và luôn được nhiều ca sĩ cả người dân tộc lẫn người Kinh ở Đăk Lăk lựa chọn dự thi trong các liên hoan nghệ thuật quần chúng trong và ngoài tỉnh, đạt nhiều giải thưởng các loại, cho đến tận những tháng năm của thế kỷ XXI này. Và ở đâu cũng giới thiệu đó là sáng tác của nhạc sĩ Xuân Giao.

Khi còn công tác ở cơ quan thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại Tây Nguyên, tôi chịu trách nhiệm biên tập và phát sóng mỗi tháng một chương trình ca nhạc 30 phút, giới thiệu tác giả, tác phẩm âm nhạc Tây Nguyên. Trong một lần giới thiệu nhạc sĩ Xuân Giao và những ca khúc viết về Tây Nguyên của ông, tôi trực tiếp phỏng vấn qua điện thoại về hoàn cảnh ra đời của ca khúc có tên gọi Nổi cồng lên mừng Tây Nguyên thắng trận. Thật bất ngờ khi ông khẳng định đó không phải là sáng tác của mình (?). Tôi tìm hỏi nhiều người, nhưng cũng không ai biết.

Kỷ niệm 75 năm ngày thành lập Hội Nhà báo Việt Nam (21/6/2000), Hội Nhà báo Đăk Lăk tổ chức một buổi tọa đàm với những vị cựu chiến binh lão thành cách mạng thời kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đã từng kinh qua công tác báo chí và văn nghệ ở chiến khu, tôi có đưa bài hát này ra hỏi, Bác sĩ Ama Thương (Siu Pui), nguyên cán bộ lãnh đạo tỉnh thời kháng chiến chống Mỹ và sau giải phóng của Đăk Lăk - Gia Lai khẳng định bài đó là của nhạc sĩ Kpă Púi. Nhưng sau đó, nhạc sĩ Ama Nô, nguyên trưởng đoàn ca múa B3 (Đăk Lăk) thời kháng chiến chống Mỹ, lại nói với tôi rằng “không phải của Kpă Púi đâu”.

Bẵng đi một thời gian khá dài, trong một lần trò chuyện với nhạc sĩ người dân tộc Ba na Chăm La Mai Chửng về quá trình đến với âm nhạc, ông cho biết: “Khi đi vào chiến trường B ai cũng phải lấy tên khác. Công tác ở chiến trường miền Đông nhưng tôi lấy bút danh Kpă Y Lăng để kỷ niệm và nhớ mãi ơn người thầy đầu tiên đưa tôi đến với âm nhạc, đó là nhạc sĩ Kpă Púi”. Ông còn nói thêm “Kpă Púi có nhiều bút danh lắm. Hồi mới từ ngoài Bắc vô chiến trường khu V, chưa có vợ, ông lấy tên là Kpă Na Nao. Sau này khi có con lại lấy tên Ama Đích”.

Tôi chợt nhớ thời gian công tác ở Đoàn Ca múa Tây Nguyên và cộng tác với Đài Tiếng nói Việt Nam hát phục vụ chương trình phát thanh sáu thứ tiếng dân tộc Tây Nguyên, đã từng nghe và hát một vài bài của tác giả Kpă Na Nao, nhưng không biết cụ thể là ai, sau này cũng không thấy cái tên ấy xuất hiện nữa.

Khi nói chuyện về bài hát Nổi cồng lên mừng Tây Nguyên thắng trận này với một số người hoạt động âm nhạc thời chống Mỹ, có ai đó hồ nghi “Hay là của nhạc sĩ Hoàng Vân?”. Tuy nhiên, tôi biết rõ nhạc sĩ có bài “Tiếng cồng giải phóng, tiếng cồng chiến thắng” viết về Tây Nguyên thắng trận, nhưng giai điệu khác hẳn với bài hát này.

Lại qua một thời gian dài nữa, tháng 4/2006, trong khi biên tập cuốn sách về cuộc đời và hoạt động của nhạc sĩ Kpă Púi, nhạc sĩ Mạnh Trí, phó trưởng đoàn ca múa dân tộc Đăk Lăk, khi cung cấp thêm một chi tiết liên quan đến ca khúc nói trên: Hồi đó Vĩnh Ngâu đến tìm tôi, xin các bài hát về Tây Nguyên để biểu diễn. Tôi chép cho một ca khúc đã từng nghe được trên Đài Tiếng nói Việt Nam, rất hợp với chất giọng của Ngâu. Không biết cụ thể tên bài, tôi dựa vào nội dung bài đặt luôn là Nổi cồng lên mừng Tây Nguyên thắng trận. Cũng không biết sáng tác của ai, nhưng thấy nhạc sĩ Xuân Giao hay viết về Tây Nguyên, tôi bịa ra ghi luôn tác giả Xuân Giao vô đó. Vậy là thành tên cho tới bây giờ.

Cũng là tác giả chuyên nghiệp, nên chúng tôi cùng nhau phân tích tính chất âm nhạc của bài hát và thấy rằng Nổi cồng lên mừng Tây Nguyên thắng trận rất giống với phong cách sáng tác của nhạc sĩ Kpă Púi: ca từ mộc mạc, dân dã; sử dụng chất liệu dân ca Tây Nguyên để phát triển giai điệu, tuy không nhiều nhưng không dễ lẫn; khúc thức ngắn gọn nhưng rất kỹ thuật, chứng tỏ người viết “có nghề”, đã từng học qua lớp sáng tác ca khúc… Tuy nhiên chúng tôi cũng băn khoăn một điều: “Sao hồi đó người ta giới thiệu của Xuân Giao, mà nhạc sỹ Kpă Púi không hề cải chính gì?”. Có thể ông không biết đến điều thắc mắc này chăng?

Phải chăng đây là một ca khúc được gửi thẳng ra miền Bắc từ chiến trường Quân khu V, khi Kpă Púi mới về miền Nam tham gia chiến đấu, mang tên tác giả Kpă Na Nao, nên nhạc sĩ Ama Nô chỉ công tác ở Đăk Lăk không biết chăng? Khi về Tây Nguyên, nhạc sĩ Kpă Púi có nhiều năm làm công tác vận động quần chúng (ông có hẳn một bút ký dài mang tựa đề “Chiếc thuyền” kể về quá trình này), gần cuối cuộc chiến tranh mới trở lại với hoạt động nghệ thuật (khi Đoàn Văn công B3 của Đăk Lăk sáp nhập với Đoàn Văn công của Gia Lai để thành Đoàn B5 của Tây Nguyên, ông mới về nhận công tác ở đây). Do đó thời gian cùng công tác với nhạc sĩ Ama Nô trước giải phóng không nhiều.

Vậy có thể khẳng định bài hát này là của Kpă Púi không? Mong rằng có ai đó biết về tác giả, hoàn cảnh ra đời của “Tây Nguyên thắng trận”, xin hãy giải tỏa “nghi vấn âm nhạc này”.

Nhưng cho dù ai là tác giả, thì ca khúc tạm mang tên Nổi cồng lên mừng Tây Nguyên thắng trận vẫn đã và đang làm trọn nhiệm vụ của mình: thủy chung với âm nhạc Tây Nguyên suốt từ những năm đầu của thời kỳ chống Mỹ cứu nước cho tới tận thế kỷ XXI. Nhiều ca sỹ Tây Nguyên đã đạt thành tích cao với bài hát đầy lửa chiến đấu và rất kỹ thuật âm nhạc này, như: Mạnh Trí, Vĩnh Ngâu, Y Moan Ea Nuôl, Y Kô Niêk Đam, H’Len…

Và cứ mỗi độ tháng ba – tháng tư xuân chiến thắng về Tây Nguyên Nổi cồng lên mừng Tây Nguyên thắng trận cũng như Tây Nguyên giải phóng (một bài hát khác của Kpă Púi) vẫn vang vọng khắp núi rừng cao nguyên đất đỏ. Minh chứng cho sự trường tồn của âm nhạc trong đời sống tinh thần của con người.

 

AI MỚI THẬT SỰ LÀ TÁC GIẢ
BÀI HÁT “TÔI ĐƯA EM SANG SÔNG”


NGUYỄN DUYÊN
sưu tầm

Tôi đưa em sang sông là một bài hát hay, rất quen thuộc được nhiều người ái mộ trong thập niên 60. Thời học sinh sinh viên tôi cũng thích bài nầy vì giai điệu đơn giản - slow rock - lời hát chân thành  xúc cảm. Gần đây qua internet với nhiều tư liệu khác nhau cho thấy hai vị đồng tác giả của bài hát (Nhật Ngân và Y Vũ) đều phát biểu khác nhau về nguồn gốc bài hát. Nhật Ngân thì cho rằng bài nấy ông có cảm xúc sáng tác từ Đà Nẵng và đưa vào Sài Gòn nhờ nhạc sĩ Y Vân lăng-xê dùm. Còn nhạc sĩ Y Vũ (em Y Vân ) thì nói rằng bài hát được cảm xúc từ mối tình lãng đãng với một cô gái ở Sài Gòn…

Vậy không biết sự ra đời bài hát bắt nguồn từ đâu?

Mời quý vị xem tư liệu mà tôi sưu tập được để cùng nhận định, góp ý thêm một giai thoại về bài hát.

Trần Nhật Ngân, sinh năm 1942 tại Thanh Hóa và là con út trong một gia đình sáu người con. Vì thân phụ là một công chức thường phải di chuyển nhiều, nên Nhật Ngân cũng đã từng sống ở nhiều nơi: Huế và Đà Nẵng.

http://nguyenquocdong.vnweblogs.com/gallery/4781/NhatNgan.jpg

Vào khoảng cuối thập niên 50, bố ông đã qua đời, Nhật Ngân cùng mẹ vào Sài Gòn, theo chân các anh chị đã vào đây từ trước. Sau khi học hết trung học ở trường Võ Trường Toản và lấy được mảnh bằng tú tài, ông trở ra Đà Nẵng dạy nhạc và Việt văn tại trường Phan Thanh Giản. Trước đó, tại Đà Nẵng và Huế, Nhật Ngân đã đến với âm nhạc qua sự chỉ dẫn của các linh mục và sau đó ở Sài Gòn, qua sự hướng dẫn của những người thân trong họ là giáo sư âm nhạc và nhạc sĩ nổi tiếng như Đỗ Thế Phiệt và Nhật Bằng.

Theo lời tâm sự của Nhật Ngân, đáng lẽ ông đã trở thành một nhạc công vĩ cầm như người em họ là Nhật Hiền, nhưng vì gia đình ông quá nghèo, không mua nổi cây đàn cho ông. Do đó, ông đành quyết định thôi học. Vì lòng đam mê âm nhạc và nhất là nhờ ở khả năng thiên phú của mình, Nhật Ngân đã hoàn thành nhạc phẩm đầu tay vào năm 1960 khi ông mới 18 tuổi. Đó là một ca khúc tình cảm mang tên Tôi đưa em sang sông.

Về trường hợp ra đời ca khúc này, Nhật Ngân cho biết: khi trở về dạy học ở Đà Nẵng, ông có yêu một người con gái. Thời đó đối với các gia đình ở miền Trung là phải có chức phận thì họ mới gả con gái cho mình. Ông chỉ là người dạy học thôi, lại còn quá  trẻ, nên gia đình cô ấy không chịu gả. Và cô ấy đi lấy chồng. “Thật sự là ngẫu hứng thôi, tôi làm bài hát đó".

Mặc dù chưa có phương tiện phổ biến rộng rãi trong thời gian đầu, nhưng Tôi đưa em sang sông đã trở thành một ca khúc được giới học sinh, sinh viên Đà Nẵng rất ưa thích, chép tay truyền cho nhau hát.

Sau đó Nhật Ngân gửi ca khúc này vào Sài Gòn nhờ nhạc sĩ Y Vân phổ biến dùm, với sự sửa đổi một vài chữ trong bản nhạc cho hợp với đường lối của Bộ Thông tin lúc đó không cho phép phổ biến những nhạc phẩm ủy mị, ướt át. Câu "Rồi thời gian lặng lẽ trôi, đời tôi là cánh mây trôi bốn phương trời. Và đời em là cánh hoa thì bao người ước mơ, đưa đón trông chờ" được nhạc sĩ Y Vân đổi thành "Rồi thời gian lặng lẽ trôi, đời tôi là chiến binh đi khắp phương trời. Mà đời em là ước mơ đẹp muôn ngàn ý thơ, như ngóng trông chờ" cho phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh của đất nước.

Câu kết của bản chính là "Nàng đã thay một lối về, thay cả bàn tay đón đưa" cũng đã được Y Vân đổi thành "Nàng đã thay một lối về, quên cả người trong gió mưa." Sự thay đổi lời ca này đã khiến ông cảm thấy "hẫng" đi một chút, như lời ông nói, vì không đúng với tâm trạng của mình lúc đó chưa hề trải qua đời sống trong quân ngũ.

Hơn nữa, vì tác giả còn là một người chưa có tên tuổi nên cần nhờ tới một nhạc sỹ nổi tiếng đứng chung tên để Tôi đưa em sang sông đến với quần chúng dễ dàng hơn. Khi được phát hành, Tôi đưa em sang sông được ký tên bởi hai người là Trần Nhật Ngân và Y Vũ (theo Trường Kỳ -nhacvangonline).

Còn sau đây là lời tâm sự của nhạc sĩ Y Vũ (Y Vũ là tác giả bài Kim nổi tiếng năm 1964 với điệu twist sôi động  qua tiếng ca của nữ hoàng nhạc twist thời đó - ca sĩ Túy Phượng):

Tôi sinh ra ở Hà Nội nhưng lớn lên tại đất Sài Gòn náo nhiệt. Những ngày tháng thơ ngây tại trường trung học có lẽ không bao giờ phai mờ trong trí nhớ của tôi, bởi ở đó tôi đã để trái tim mình rung động trước cô bạn chung lớp tên Thanh. Tình yêu học trò trong sáng lắm, chỉ cảm nhận qua ánh mắt, nụ cười chứ đâu có dám ngồi gần, dám nắm tay. Những khi tan trường sóng bước bên nhau cũng không biết nói câu gì, chỉ biết... đá cái lon sữa bò khua vang đường phố. 

Thanh là con một gia đình khá giả, có cây xăng ở ngã bảy Lý Thái Tổ. Còn tôi hồi đó chỉ có chiếc "xế nổ" hiệu Roumie ngày ngày đi học. Mỗi chiều khi thay ba ra trông cây xăng, Thanh lại nhắc tôi ra đổ xăng... chùa. Những ngày tháng đó với tôi thật hạnh phúc, lãng mạn. Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang, Thanh biến mất khỏi cuộc đời tôi vì một đám cưới ép gả với chàng bác sĩ. Hụt hẫng, chơi vơi, tôi uống chén đắng đầu đời và nếm trải mùi vị của "thất tình". Tỉnh cơn say vào 2 giờ sáng, tôi ôm guitare và thế là Tôi đưa em sang sông ra đời. Bài hát với giai điệu buồn da diết được coi là tài sản chung cho nhiều chàng trai lâm vào cảnh như tôi thời đó.

Mối tình đầu làm tôi trắng tay, nhưng nỗi bất hạnh ấy đem lại cho tôi xúc cảm để có được hai bài hát tâm đắc. Sau Tôi đưa em sang sông gắn liền với tiếng hát Lệ Thu, ca khúc Ngày cưới em lại thành công vang dội: "Hôm nay ngày cưới em, nào men nồng nào hoa thơm, nào môi hồng nào da phấn, khăn áo muôn sắc đua chen...".

Tôi là kẻ đa tình nhưng cũng rất chung tình. Trong đời tôi chưa lần nào phụ người. Khi yêu ai đó, tôi đều yêu hết lòng, sống hết mình. Nhưng rồi không hiểu sao tôi cứ bị ruồng bỏ. Tại tôi vụng về chăng? Tôi cũng tự vấn mình rất nhiều, nhưng rồi cũng không thể trả lời câu hỏi ấy được. Chỉ biết rằng, đời nghệ sĩ như tôi long đong, lận đận đến tận bây giờ, ngoài 60 tuổi mà vẫn chưa có một mái ấm gia đình. Sau mỗi đêm tại nhà hàng Arnold với công việc phụ trách âm nhạc, tôi lại cô đơn trở về căn phòng trọ. Nhưng dù thế nào thì cuộc sống vẫn tiếp nối; dù thế nào tôi cũng vẫn phải làm việc, sáng tạo và yêu thương.

Mỗi tác phẩm của tôi đều in dấu ấn của kỷ niệm, của nỗi niềm riêng. Ca khúc Kim được nhiều người yêu thích chính là ca khúc tôi viết tặng cô gái tên Kim có gương mặt buồn và gia cảnh thật đáng thương. Một năm sau ngày bài hát được tung ra, Kim đã mất vì bệnh tim.

(Tham khảo link http://my.opera.com /diemxuacafe/blog/show.dml/2402789).

Ghi chú: theo Chương trình phát thanh radio Australia: 70 năm tình ca trong Tân nhạc Việt Nam thì cho rằng bài Tôi đưa em sang sông là của Nhật Ngân (sở dĩ để tên Y Vũ vì nhạc sĩ Y Vân ghi tên em mình lên cho thu hút thính giả mà thôi).

 

 

VẪN BĂN KHOĂN
VỀ LỜI CA “GỬI NGƯỜI EM GÁI MIỀN NAM”

 

ĐỖ VĂN THIỆN

 

Gửi người em gái miền Nam là một bài hát trữ tình của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn, được sáng tác từ năm 1956. Thế nhưng, cho đến tận bây giờ, rất nhiều người yêu nhạc vẫn chỉ biết đến bài hát này dưới cái tên Gửi người em gái, qua một phiên bản do các ca sĩ miền Nam biểu diễn ở miền Nam trước 1975, với phần lời đã bị cắt xén đến biến dạng. Giờ đây, tuy muộn nhưng có lẽ đã đến lúc nên trả lại cho bài hát nổi tiếng này những giá trị của nó, bắt đầu từ việc gọi đúng tên và hát đúng lời như nhạc sĩ Đoàn Chuẩn đã viết.

Một trong những người đầu tiên hát bài Gửi người em gái miền Nam là tài tử Ngọc Bảo. Ông đã bỏ ra hàng tháng luyện tập bài hát này, đến nỗi chính nhạc sĩ Đoàn Chuẩn cũng phải khâm phục khi nghe ông hát. Chính vì thế nên có thể tin rằng phần lời bài hát mà tài tử Ngọc Bảo thể hiện là do nhạc sĩ Đoàn Chuẩn viết từ đầu.

Và đây là nội dung của ca từ:

1.   Cành hoa tim tím bé xinh xinh báo xuân nồng
Cành đào phong kín cánh mong manh như hoa lòng
Hà Nội mừng đón Tết, hoa chen người đi, liễu rủ… mà chi.

Đêm tân xuân, hồ Gươm như say mê
Chuông reo vui, Ngọc Sơn sao uy nghi
Ngàn phía đến lễ đền
Chạnh lòng tôi nhớ tới… người em.

Tôi có người em gái, tuổi chớm đôi mươi
Mắt huyền trìu mến yêu thương
Đôi mắt em nói nhiều, tha thiết như Giáng Kiều
Hoa tình yêu!

Nhưng… một sớm mùa thu, khép giữa trời, tím ngắt
Nàng đi… gót hài xanh
Người đi trong dạ sao đành
Đường quên lối cũ ân tình… nghĩa xưa.

Rồi từ ngày ấy sống trong Nam nơi kim tiền
Ngục trần giam hãm tấm thân xinh, đôi mắt huyền
Đời nghèo không lối thoát, em tôi đành thôi, cúi đầu… mà đi.

Xuân năm nay, đường đêm Catinat
Hoa mai rơi, rủ nhau nơi phương xa
Dần trắng xóa mặt đường
Một người em gái nhớ người thương!

2.   Rồi ngày thống nhất đến rất nhanh không ai ngờ
Cầu chia giới tuyến đến mai đây san đất bằng
Nụ cười trong gió sớm, anh đến tìm em... giữa cầu Hiền Lương.

Em tôi đi, màu son lên đôi môi
Khăn san bay, lả lơi bên vai ai
Trời thắm gió trăng hiền
Hà Nội thêm bóng dáng nàng tiên.

Em! Tháp Rùa yêu dấu
Còn đó nên thơ, lớp người đổi mới khác xưa
Thu đã qua những chiều nên ý thơ rất nhiều
Cả... tình yêu!
Em... nhẹ bước mà đi, giữa khung trời bát ngát
Trời ta hết màu tang
Đường xưa lối ngập lá vàng
Đường nay thong thả bao nàng đón xuân.

Lòng anh như giấy trắng thanh tân ép hoa tàn
Thời gian vẫn giữ nét yêu đương nơi hoa vàng
Dằn lòng tơ dẫn phím, ý thơ trào dâng, viết gửi vào Nam.

Đêm hôm nao, ngồi nghe qua không gian
Em tôi mơ miền quê qua sương lam
Trời Bắc lóa ánh đèn
Một người trên đất Bắc chờ em!

Có thể thấy bài hát này gồm hai phần. Phần 1 là cảm xúc về một câu chuyện tình có kết cục chia ly buồn do hoàn cảnh chung của cả dân tộc mang đến, là nỗi niềm nhớ nhung, đau xót của tác giả khi nghĩ tới người yêu đang ở nơi xa xôi không chỉ về không gian. Khi mà phiên bản cũ từ miền Nam vẫn được phổ biến gần như là duy nhất thì không nhiều người được nghe hay biết tới những lời hát đã vẽ nên một bức tranh thơ rất đẹp mà cũng đau xót đến tê lòng về một người con gái nhỏ bé, yếu ớt đang phải cô đơn đón xuân mới giữa một nơi xa lạ, của những người xa lạ:

Xuân năm nay, đường đêm Catinat
Hoa mai rơi, rủ nhau nơi phương xa
Dần trắng xóa mặt đường
Một người em gái nhớ người thương!

Đặc biệt là phần 2 của bài hát.

Được viết từ năm 1956, gần 20 năm trước ngày đất nước thống nhất, vào thời kỳ hai miền mới bị chia cắt, khi giấc mơ đoàn tụ theo hiệp định Genève đang tắt dần, còn chưa biết được tương lai sẽ ra sao trong hoàn cảnh rối ren loạn lạc, vậy nhưng tác giả vẫn mơ “Rồi ngày thống nhất đến rất nhanh không ai ngờ/ Cầu chia giới tuyến đến mai đây san đất bằng/ Nụ cười trong gió sớm, anh đến tìm em... giữa cầu Hiền Lương”. Một giấc mơ mà trong hoàn cảnh giang sơn đã thu về một mối như ngày nay thì có thể nói đơn giản là một giấc mơ lạc quan, nhưng nếu đặt vào tâm trạng và hoàn cảnh ngày đó thì mới thấy giấc mơ xa vời ấy dường như gợi nhớ đến một nỗi đau sâu thẳm trong lòng vì tuyệt vọng trong chia ly, dù vẫn còn le lói chút tia hy vọng, nhiều hơn là niềm tin tưởng vô cớ hay lạc quan tếu như có người nhìn nhận.

Theo cách nhìn này thì những bức tranh mà tác giả vẽ nên như “Em tôi đi, màu son lên đôi môi/ Khăn san bay, lả lơi bên vai ai/ Trời thắm gió trăng hiền/ Hà Nội thêm bóng dáng nàng tiên” hay “Em... nhẹ bước mà đi, giữa khung trời bát ngát/ Trời ta hết màu tang/ Đường xưa lối ngập lá vàng/ Đường nay thong thả bao nàng đón xuân” mang nhiều ý nghĩa khác hơn, chất chứa nhiều tâm sự sâu sắc hơn là những lời bày tỏ tình cảm yêu đương trìu mến thông thường dành cho một người yêu bị chia xa do hoàn cảnh. Vì thế bài hát này, bên cạnh giai điệu đi vào lòng người, còn mang lại nhiều điều đáng để suy ngẫm và chiêm nghiệm tùy theo mức độ cảm nhận của người nghe.

Thế nhưng lời bài hát hiện vẫn còn phổ biến hiện nay chỉ còn lại một lời và là một sự cắt xén, lắp ghép có thể nói là tùy tiện và vụng về nếu so với nguyên gốc. Tùy theo ca sĩ thể hiện, nó có thể khác biệt đôi chút nhưng về cơ bản thì lời hát ấy như sau:

Cành hoa tim tím bé xinh xinh báo xuân nồng
Cành đào phong kín cánh mong manh như hoa lòng
Hà Nội chờ đón Tết, vắng bóng người đi, liễu rủ... mà chi.

Đêm tân xuân, hồ Gươm sao long lanh
Hoa mai rơi, rủ nhau nơi phương xa
Đường phố vắng bóng đèn
Chạnh lòng tôi nhớ tới... người em.

Tôi có người em gái, tuổi chớm dâng hương
Mắt huyền rộn ý yêu thương
Đôi mắt em nói nhiều, tha thiết như Giáng Kiều
Ôi, tình yêu!

Nhưng... một sớm mùa thu, giữa chân trời xanh ngắt
Nàng đi... gót hài xanh
Người đi trong dạ sao đành
Đường quên lối cũ ân tình... nghĩa xưa.

Rồi từ ngày ấy nước sông ngăn cách đôi lòng
Thuyền tình vỡ lỡ bến cô đơn không ai ngờ
Tình nghèo xa cách mãi, em tôi đành ôm mối sầu mà đi.
Em tôi đi, màu son lên đôi môi
Khăn san bay, lả lơi trên hai vai
Nhìn xác pháo bên thềm
Gợi lòng tôi nhớ tới người em...

Rất dễ nhận thấy phiên bản này đã phá bỏ hoàn toàn cấu trúc ban đầu và làm biến dạng hẳn ý nghĩa của bài hát. Thế nhưng thật lạ là các ca sĩ hiện nay vẫn vô tư trình diễn cái phiên bản méo mó này mà không gặp bất kỳ ý kiến nào của các cơ quan quản lý biểu diễn âm nhạc.

Việc một bài hát rất hay đã một thời gặp phải những trắc trở, bị ngưng phổ biến vì những nguyên nhân này nọ đã là chuyện quá khứ. Nhưng đến bây giờ, khi không còn lý do gì để tiếp tục những sai lầm hay ấu trĩ ấy nữa mà người ta vẫn để yên cho cái vỏ xấu xí kia che lấp mất cái giá trị thật của bài hát thì đó là một điều đáng phải lên tiếng. Bởi nó không chỉ làm ảnh hưởng đến quyền lợi và uy tín của riêng nhạc sĩ Đoàn Chuẩn, mà còn làm biết bao người nghe và yêu âm nhạc nước nhà phải chịu thiệt thòi vì họ chỉ được thưởng thức một thứ đồ dởm mà không hề biết.

Đến bao giờ bài hát nổi tiếng này mới được trả lại tên và ca từ như nó vốn có?

 Tháng 8/2011 

Thêm một trao đổi